Vui lòng điền đầy đủ các thông tin sau

kết quả thống kê

Với vai trò của một trung tâm khoa học và công nghệ lớn của cả nước, theo định hướng phát triển trong 5 năm tới, TP.HCM sẽ tiếp tục tập trung chủ yếu vào nghiên cứu ứng dụng, thúc đẩy phát triển thị trường khoa học - công nghệ, đặc biệt là đối với các ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố.

Từ dữ liệu kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (phối hợp Cục Thống kê TP.HCM) trên 3.690 doanh nghiệp tại TP.HCM năm 2019 (1.033 doanh nghiệp thuộc 4 ngành công nghiệp trọng yếu, 2.268 doanh nghiệp thuộc 9 ngành dịch vụ và 389 doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số lĩnh vực khác), có thể rút ra một số thông tin như sau:

 

1. VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Có 835/3.690 doanh nghiệp (chiếm 22,6%) có các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN). Trong đó, hoạt động nghiên cứu cải tiến máy móc, thiết bị và đổi mới công nghệ có đến 66,6% doanh nghiệp thực hiện cập nhật, trao đổi thông tin; kế tiếp là các hoạt động chuyển giao công nghệ (41,6%) và hoạt động cải tiến máy móc, thiết bị và công nghệ (24,4%). Còn những nghiên cứu ở các hoạt động khác chỉ có khoảng 3-12% doanh nghiệp thực hiện (số liệu thống kê chi tiết trong Bảng 1).

Bảng 1. Doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu cải tiến máy móc, thiết bị và đổi mới công nghệ năm 2019 tại TP. HCM

Nguồn: Báo cáo về hoạt động khoa học và công nghệ của TP. Hồ Chí Minh năm 2020

  

Tổng chi cho KH&CN của doanh nghiệp (có các hoạt động nghiên cứu cải tiến máy móc, thiết bị và đổi mới công nghệ) trong mẫu khảo sát là 5.830 tỷ đồng (trung bình 1,58 tỷ đồng/doanh nghiệp). Nhiều nhất là chi cho các hoạt động chuyển giao công nghệ (chiếm đến 46,7% tổng chi cho KH&CN) và cải tiến máy móc thiết bị và công nghệ (16,4%) (Biểu đồ 1).

Biểu đồ 1. Chi cho hoạt động nghiên cứu cải tiến máy móc, thiết bị và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp năm 2019

Nguồn: Báo cáo về hoạt động khoa học và công nghệ của TP. Hồ Chí Minh năm 2020

  

Theo loại hình doanh nghiệp, tỷ lệ doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước có hoạt động nghiên cứu KH&CN (lần lượt là 24,8% và 24,9%) cao hơn khoảng 10% so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Biểu đồ 2).

Biểu đồ 2. Doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu KH&CN năm 2019, theo loại hình doanh nghiệp

Nguồn: Báo cáo về hoạt động khoa học và công nghệ của TP. Hồ Chí Minh năm 2020

  

Tuy nhiên, chi cho hoạt động nghiên cứu KH&CN của doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ chiếm khoảng 24% so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 28% so với doanh nghiệp nhà nước (Biểu đồ 3).

 

Biểu đồ 3. Chi cho hoạt động nghiên cứu KH&CN của doanh nghiệp năm 2019, theo loại hình doanh nghiệp

Nguồn: Báo cáo về hoạt động khoa học và công nghệ của TP. Hồ Chí Minh năm 2020

  

Theo ngành kinh tế, có thể thấy, các doanh nghiệp thuộc 4 ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố có thực hiện các hoạt động nghiên cứu KH&CN cao hơn nhiều so với doanh nghiệp trong 9 ngành dịch vụ. Đặc biệt là ngành Công nghệ thông tin – Điện tử viễn thông chiếm tỷ lệ cao nhất, đến 39,4%. Ngược lại, hoạt động kinh doanh bất động sản có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 11% doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu KH&CN (Biểu đồ 4).

Biểu đồ 4. Doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu KH&CN năm 2019, theo ngành kinh tế

Nguồn: Báo cáo về hoạt động khoa học và công nghệ của TP. Hồ Chí Minh năm 2020

  

Mức đầu tư cho hoạt động nghiên cứu KH&CN của các ngành kinh tế được thể hiện cụ thể trong Biểu đồ 5. Trong đó, chiếm lượng lớn là đầu tư của các doanh nghiệp thuộc 4 ngành công nghiệp trọng điểm (với mức trung bình 3,7 tỷ đồng), cao nhất là các doanh nghiệp trong ngành Công nghệ thông tin – Điện tử viễn thông (6,288 tỷ) và Cơ khí chế tạo – Tự động hóa (3,682 tỷ). Các doanh nghiệp trong 9 ngành dịch vụ đầu tư cho nghiên cứu KH&CN với mức trung bình là 0,9 tỷ đồng, nổi trội là các doanh nghiệp thuộc ngành Hoạt động tài chính – Ngân hàng – Bảo hiểm (3,183 tỷ), Thương nghiệp - Sửa chữa xe có động cơ (1,954 tỷ) và Y tế (1,396 tỷ).

Biểu đồ 5. Chi cho hoạt động nghiên cứu KH&CN của doanh nghiệp năm 2019, theo ngành kinh tế

Nguồn: Báo cáo về hoạt động khoa học và công nghệ của TP. Hồ Chí Minh năm 2020

 

2. VỀ NHÂN LỰC THAM GIA HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Nhân lực tham gia hoạt động nghiên cứu KH&CN trong các doanh nghiệp khảo sát là 9.025 người, chiếm 1,36% tổng số lao động của doanh nghiệp. Trong đó, chủ yếu tập trung ở phòng Marketing và phòng R&D, hoặc tích hợp trong các phòng ban khác của doanh nghiệp (Bảng 2).

Bảng 2. Thống kê nhân lực tham gia hoạt động nghiên cứu KH&CN của doanh nghiệp năm 2019 tại TP. HCM

 

Nguồn: Báo cáo về hoạt động khoa học và công nghệ của TP. Hồ Chí Minh năm 2020

Duy Sang

  

Back to top

Chưa có tài khoản Đăng ký ngay!

Đăng nhập