Bảo tồn di sản trong thời đại số không chỉ là số hóa tư liệu mà là quá trình ứng dụng công nghệ nhằm lưu giữ, phục dựng và lan tỏa giá trị văn hóa bằng những phương thức hiện đại, sinh động và bền vững hơn.
Theo Luật Di sản văn hóa (Luật số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024), di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Nhân dân. Luật cũng nhấn mạnh rằng việc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng và cá nhân. Để giá trị di sản được lưu truyền bền vững, bên cạnh nhiệm vụ nhận diện và gìn giữ, công tác truyền thông nhằm đưa di sản đến gần hơn với công chúng ngày càng được các cơ quan quản lý và giới nghiên cứu quan tâm. Trong bối cảnh cách thức tiếp nhận thông tin của xã hội thay đổi nhanh chóng, công tác bảo tồn không thể chỉ dựa vào những phương pháp truyền thống. Nhiều công nghệ mới đã được ứng dụng để lưu giữ, phục dựng và lan tỏa giá trị văn hóa bằng những phương thức hiện đại, trực quan và bền vững hơn, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận và giúp di sản hiện diện sinh động hơn trong đời sống cộng đồng ở kỷ nguyên số.
Ứng dụng công nghệ trong hoạt động thư viện
Trong quá trình chuyển đổi số, thư viện trở thành một trong những đơn vị đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ để bảo tồn và phát huy giá trị di sản tư liệu. Công nghệ giúp thư viện số hóa, lưu trữ an toàn và cung cấp khả năng truy cập rộng rãi cho người dùng, đặc biệt với những tài liệu quý hiếm hoặc có nguy cơ hư hỏng. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học Tổng hợp là một ví dụ tiêu biểu. Với định hướng hiện đại hóa hoạt động thư viện, đơn vị đã triển khai nhiều giải pháp công nghệ như số hóa tài liệu, xử lý ảnh, nhận dạng ký tự, xây dựng bộ sưu tập số và cung cấp tài nguyên trực tuyến. Hằng năm, thư viện số hóa khoảng vài trăm nghìn trang tư liệu, từ sách quý, báo chí cổ, tài liệu Đông Dương đến kho tư liệu Hán - Nôm, âm nhạc dân tộc và bản đồ học lịch sử. Các dự án lớn giúp tạo lập cơ sở dữ liệu quy mô hàng triệu trang, phục vụ tra cứu nhanh, giảm áp lực sử dụng bản gốc và hỗ trợ nghiên cứu một cách thuận tiện hơn.

Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Ứng dụng công nghệ trong hoạt động bảo tàng, di tích lịch sử
Nếu như trước đây, hiện vật được trưng bày chủ yếu dưới dạng tĩnh, khiến trải nghiệm tham quan đôi khi thiếu hấp dẫn, thì công nghệ số đã mang đến sự thay đổi mạnh mẽ trong hoạt động bảo tàng. Nhiều bảo tàng đã đưa vào vận hành các ứng dụng trải nghiệm mới, giúp hiện vật trở nên sinh động, có câu chuyện và ngữ cảnh để người xem dễ tiếp cận hơn. Các giải pháp ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), mô hình 3D, thiết bị tương tác, bản đồ số hóa… đang tạo nên các “bảo tàng thông minh, từng bước đưa công chúng đến gần hơn di sản. Tiêu biểu như Phòng trưng bày ứng dụng kỹ thuật và công nghệ tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ kết hợp máy Hologram trong không gian trưng bày (bảo tàng đầu tiên tại TP. Hồ Chí Minh ứng dụng thiết bị công nghệ này - PV). Hình ảnh hiện vật và các nhân vật lịch sử qua máy Hologram thể hiện 3D, kết hợp phần mềm tương tác 3600 và công nghệ thực tế ảo (VR), giúp khách tham quan có thể cảm nhận hiện vật như trong không gian thực với nhiều góc độ khác nhau. Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh thì tái hiện về 5 nhà tù lớn ở miền Nam Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ trong một container mô phỏng đặt ngoài trời. Không chỉ sử dụng các công nghệ 3D, tại đây còn kết hợp cả các công nghệ ánh sáng, nhiệt độ, âm thanh… nhằm thể hiện phần nào tính chân thật của các nhà tù xưa.
Tại các khu di tích lịch sử, công nghệ số đang trở thành trợ lực quan trọng giúp nâng cao trải nghiệm tham quan và hỗ trợ công tác bảo tồn. Nhiều đơn vị đã ứng dụng hướng dẫn viên ảo, thuyết minh tự động, bản đồ số và mô hình tái dựng 3D để truyền tải thông tin lịch sử một cách trực quan và sinh động hơn. Một số di tích còn triển khai công nghệ tương tác nhằm kể chuyện di sản theo phong cách gần gũi, giúp công chúng tiếp cận lịch sử theo cách tự nhiên hơn. Tiêu biểu là Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, nơi chuyển đổi số được triển khai đồng bộ từ năm 2023. Đơn vị đã số hóa hồ sơ, tài liệu và hiện vật theo quy trình chuẩn, xây dựng cơ sở dữ liệu bảo mật và phân quyền chặt chẽ, tạo nền tảng quan trọng cho công tác nghiên cứu và lưu giữ lâu dài. Hệ thống tham quan trực tuyến sử dụng công nghệ hình ảnh 360° cho phép người xem khám phá Nhà sàn, Nhà 54, ao cá và nhiều không gian gắn với cuộc sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tính đến tháng 7/2025, website đã ghi nhận hơn 23 triệu lượt truy cập. Việc ứng dụng mã QR với 5 ngôn ngữ (Việt, Anh, Trung, Hàn, Nhật) giúp du khách thuận tiện tiếp cận thông tin và hình ảnh một cách trực quan. Hệ thống vé điện tử “Trực tuyến - Liên thông - Đa phương thức” cho phép du khách, công ty lữ hành và hướng dẫn viên mua vé trên ứng dụng “Du lịch Việt Nam - Vietnam Travel”, qua đó giảm thời gian xếp hàng và tối ưu quy trình phục vụ. Bên cạnh đó, phòng Trải nghiệm Di sản được đưa vào hoạt động với các công nghệ 3D mapping, màn hình chạm và mô phỏng tương tác, mang đến không gian học tập sinh động, hiện đại, góp phần đưa di sản đến gần hơn với cộng đồng.
Ứng dụng công nghệ phục dựng, diễn giải lịch sử
Trong lĩnh vực phục dựng và diễn giải lịch sử, công nghệ số cũng đang mở ra những phương thức tiếp cận mới, giúp tái hiện ký ức quá khứ một cách chân thực và nhân văn hơn. Nhiều nhóm nghiên cứu và cá nhân trẻ đã ứng dụng trí tuệ nhân tạo, các thuật toán phục hồi ảnh, xử lý màu và dựng hình 3D để làm sống lại những tư liệu lịch sử có nguy cơ mai một. Tiêu biểu là dự án phục dựng ảnh liệt sĩ do ông Phùng Quang Trung và nhóm Skyline thực hiện, với mục tiêu khôi phục hàng nghìn bức chân dung từ những tấm ảnh đã hư mờ theo thời gian. Nhóm sử dụng công nghệ AI để làm rõ đường nét khuôn mặt, tái hiện ánh mắt, biểu cảm và sắc thái đặc trưng của từng liệt sĩ, đồng thời kết hợp tham vấn gia đình nhằm bảo đảm độ chính xác và sự tôn trọng ký ức. Nhiều bức ảnh được phục dựng không chỉ giúp thân nhân thấy lại gương mặt người đã khuất, mà còn trở thành tư liệu lịch sử có giá trị, góp phần lan tỏa tinh thần tri ân và gìn giữ ký ức chiến tranh. Bằng việc ứng dụng công nghệ vào phục dựng tư liệu, những câu chuyện lịch sử được “kể lại” bằng hình ảnh rõ nét, sinh động và giàu cảm xúc hơn, giúp thế hệ trẻ hôm nay tiếp cận lịch sử theo cách sâu sắc và gần gũi hơn.
Ứng dụng công nghệ bổ trợ trong bảo tồn di sản
Trong công tác bảo tồn di sản, các công nghệ bổ trợ như GIS đang giúp việc quản lý và gìn giữ giá trị văn hóa trở nên thuận tiện, trực quan và khoa học hơn. Tại TP.HCM, nhiệm vụ “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS trong công tác quản lý đất đai, quản lý các công trình thuộc Công viên Lịch sử - Văn hóa dân tộc” được Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM nghiệm thu tháng 9 năm 2025 là một ví dụ tiêu biểu. Trên một không gian rộng lớn với nhiều hạng mục công trình, cảnh quan và yếu tố văn hóa đan xen, việc quản lý trước đây gặp nhiều khó khăn do dữ liệu phân tán và thiếu đồng bộ. Việc số hóa và tích hợp thông tin trên nền tảng GIS đã khắc phục hạn chế này, giúp toàn bộ dữ liệu về đất đai, giao thông, cây xanh đến các giá trị văn hóa phi vật thể như lễ hội, nghệ thuật dân gian được lưu trữ tập trung, dễ tra cứu và dễ cập nhật. Hệ thống phần mềm GIS được phát triển với 13 nhóm chức năng, nổi bật ở khả năng quản lý đất đai – công trình, quảng bá du lịch qua bản đồ số và đặc biệt là mô hình hóa 3D/360° để tái hiện các công trình tiêu biểu. Tính năng này không chỉ trực quan hóa dữ liệu mà còn mở ra tiềm năng lớn cho du lịch thông minh. Báo cáo nghiệm thu cho thấy hệ thống cho phép Ban quản lý công viên quản lý dữ liệu hiệu quả hơn, đồng thời tạo nền tảng khoa học phục vụ quy hoạch, bảo tồn và phát triển trong dài hạn. Hệ thống cũng sẵn sàng tích hợp vào kho dữ liệu GIS dùng chung của TP.HCM, góp phần xây dựng đô thị thông minh và quảng bá di sản Việt Nam ra thế giới theo cách hiện đại, sinh động hơn.
***
Sự phát triển của công nghệ mở ra những phương thức hiệu quả hơn để gìn giữ và lan tỏa giá trị di sản văn hóa. Các mô hình số hóa tư liệu, trưng bày tương tác, tham quan trực tuyến, phục dựng tư liệu bằng AI hay quản lý không gian văn hóa bằng GIS đều góp phần giúp di sản hiện diện sinh động và dễ tiếp cận hơn với cộng đồng. Điều này cũng phù hợp với chủ trương của Chính phủ tại Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 (Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021). Việc tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số và mở rộng các mô hình ứng dụng sẽ là nền tảng quan trọng để di sản Việt Nam được bảo tồn lâu dài và lan tỏa sâu rộng hơn trong đời sống xã hội.
Kim Nhung
----------------------------------------
Tài liệu tham khảo chính
[1] Luật Di sản văn hóa ngày 23 tháng 11 năm 2024.
[2] Hà Lam. (2025). TP.HCM ứng dụng công nghệ GIS trong công tác quản lý di sản. https://khoahocphothong.vn/tp-hcm-ung-dung-cong-nghe-gis-trong-cong-tac-quan-ly-di-san-261316.html
[3] Linh Linh. (2025). Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh: Công tác số hóa tài liệu đạt nhiều kết quả nổi bật. https://bvhttdl.gov.vn/thu-vien-khoa-hoc-tong-hop-tp-ho-chi-minh-cong-tac-so-hoa-tai-lieu-dat-nhieu-ket-qua-noi-bat-20250724110917427.htm
[4] Mai Nguyễn. (2025). Gương mặt trẻ Phùng Quang Trung: Phục dựng ngàn ảnh liệt sĩ từ trái tim. https://kienthuc.net.vn/guong-mat-tre-phung-quang-trung-phuc-dung-ngan-anh-liet-si-tu-trai-tim-post1056067.html
[5] Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. (2022). Bảo tàng tại TP. Hồ Chí Minh ứng dụng công nghệ để thu hút khách. https://vietnamtourism.gov.vn/post/45728
[6] Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. (2025). Công tác chuyển đổi số tại Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. https://nhasanbacho.vn/bai-viet/cong-tac-chuyen-doi-so-tai-khu-di-tich-chu-tich-ho-chi-minh-tai-phu-chu-tich/