Dữ liệu từ Cục Sở hữu trí tuệ cho thấy, trong giai đoạn 2014-2024, thị trường giao dịch quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam diễn ra khá sôi động, với hàng nghìn hợp đồng được ký kết, phản ánh sự gia tăng quá trình thương mại hóa tài sản trí tuệ.
Theo Luật Sở hữu trí tuệ (2005, sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022), quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:
- Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu: được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
- Chỉ dẫn địa lý: được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
- Nhãn hiệu nổi tiếng: được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.
- Tên thương mại: dựa trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó.
- Bí mật kinh doanh: được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó.
Các hình thức chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp chủ yếu:
- Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp: là việc chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác. Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu).
- Chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp: là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình. Việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng). Trong một số trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không cần được sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế.
Xét số lượng hợp đồng đã đăng ký, trong suốt giai đoạn 2014-2024, số lượng hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu luôn vượt xa hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng. Về chuyển nhượng quyền sở hữu, số lượng hợp đồng có xu hướng tang, từ 843 hợp đồng (2014) đến đỉnh 1.458 hợp đồng (2022), sau đó giảm còn 1.029 hợp đồng (2024). Về chuyển giao quyền sử dụng, số lượng hợp đồng khá ít so với chuyển nhượng quyền sở hữu, cao nhất là 239 hợp đồng (2018), thấp nhất 103 hợp đồng (2024).

Số hợp đồng đã đăng ký chuyển nhượng và chuyển giao, giai đoạn 2014-2024
Khi phân tích theo đối tượng được chuyển nhượng quyền sở hữu, Nhãn hiệu (NH) luôn chiếm tỷ trọng áp đảo (trên 85% hầu hết các năm), phản ánh xu hướng thương mại hóa thương hiệu mạnh hơn so với sáng chế/giải pháp hữu ích (SC/GPHI) và kiểu dáng công nghiệp (KDCN). SC/GPHI có xu hướng tăng về số lượng, đặc biệt bứt phá năm 2022 (135 hợp đồng, gấp khoảng 2 lần so với năm 2021). KDCN chiếm tỷ lệ nhỏ, dao động không ổn định và tăng nhẹ vào năm 2024.

Số hợp đồng đã đăng ký chuyển nhượng quyền sở hữu theo đối tượng, giai đoạn 2014-2024
Khi phân tích theo đối tượng được chuyển giao quyền sử dụng, NH tiếp tục chiếm ưu thế tuyệt đối (trên 80% hầu hết các năm), cho thấy việc cấp phép khai thác thương hiệu là nhu cầu phổ biến của doanh nghiệp. SC/GPHI và KDCN chiếm tỷ lệ rất thấp, ít biến động theo thời gian.

Số hợp đồng đã đăng ký chuyển giao quyền sử dụng theo đối tượng, giai đoạn 2014-2024
Xét theo nhóm chủ thể ký kết, số liệu của Cục Sở hữu trí tuệ cho thấy các giao dịch giữa người Việt Nam với người Việt Nam chiếm ưu thế tuyệt đối ở cả hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu và chuyển giao quyền sử dụng. Điều này cho thấy thị trường giao dịch quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam hiện vẫn chủ yếu xoay quanh các giao dịch trong nước. Các hợp đồng có yếu tố nước ngoài tuy chiếm tỷ lệ chưa nhiều, nhưng lại mang tiềm năng lớn nhờ cơ hội tiếp cận công nghệ, thương hiệu và nguồn lực mới. Đây là mảng thị trường có thể khai thác mạnh hơn trong thời gian tới, vừa để thu hút đầu tư và công nghệ từ bên ngoài, vừa để hỗ trợ doanh nghiệp Việt đưa tài sản trí tuệ ra thế giới.

Số hợp đồng đã đăng ký chuyển nhượng chuyển giao theo nhóm chủ thể, giai đoạn 2014-2024
Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp là phương thức thương mại hóa tài sản trí tuệ hiệu quả, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học và hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Giai đoạn 2014-2024, thị trường giao dịch quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam duy trì tăng trưởng, với hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu chiếm ưu thế vượt trội so với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng. Nhãn hiệu là đối tượng được giao dịch nhiều nhất. Phần lớn hợp đồng được ký kết giữa người Việt Nam với người Việt Nam, song các giao dịch có yếu tố người nước ngoài dù chiếm tỷ lệ chưa cao lại mở ra cơ hội tiếp nhận công nghệ, thương hiệu và nguồn vốn quốc tế, góp phần gia tăng giá trị và khẳng định vị thế tài sản trí tuệ Việt Nam.
Kim Nhung
----------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
[1] Luật Sở hữu trí tuệ (2005, sửa đổi bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022).
[2] Cục Sở hữu trí tuệ. https://www.ipvietnam.gov.vn/