Vui lòng điền đầy đủ các thông tin sau

kết quả thống kê

Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I/2026 của Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, nền kinh tế toàn cầu tiếp tục đối mặt với nhiều biến động về giá năng lượng và sự đứt gãy cục bộ của chuỗi cung ứng logistics. Tuy nhiên, tại Việt Nam, đà tăng trưởng vẫn được duy trì nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp và nhu cầu tiêu dùng nội địa. Trong bối cảnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế với các chỉ số tăng trưởng chủ yếu như sau:

 

Tổng sản phẩm trên địa bàn Thành phố (GRDP)

Quý I/2026, GRDP của TP.HCM (theo giá hiện hành) ước đạt 760.933 tỷ đồng; theo giá so sánh năm 2020 đạt 636.252 tỷ đồng, ước tăng 8,27% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực dịch vụ đạt 394.431 tỷ đồng, chiếm 51,9% (riêng 9 ngành dịch vụ chủ yếu đạt 357.551 tỷ đồng, chiếm 47,0%); khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 268.058 tỷ đồng, chiếm 35,2% (trong đó công nghiệp chiếm 33,0%, xây dựng chiếm 2,2%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 86.885 tỷ đồng, chiếm 11,4%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 11.559 tỷ đồng, chiếm 1,5%.

Hình 1: Cơ cấu GRDP TP.HCM quý I/2026
(Nguồn: Infographic tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I/2026 (Thống kê TP.HCM, 2026))

Về đóng góp của các ngành kinh tế vào tăng trưởng GRDP TP.HCM trong quý I/2026, Khu vực dịch vụ giữ vai trò chủ đạo với mức đóng góp đến 56% vào mức tăng GRDP, trong đó các ngành chính gồm: thương mại (đóng góp 13,3% vào mức tăng GRDP), vận tải kho bãi (đóng góp 13,8% vào mức tăng GRDP), tài chính (đóng góp 6,4% vào mức tăng GRDP), hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ (đóng góp 4,1% vào mức tăng GRDP), kinh doanh bất động sản (đóng góp 2,1% vào mức tăng GRDP), dịch vụ lưu trú và ăn uống (đóng góp 1,1% vào mức tăng GRDP); Ngành công nghiệp đóng góp 30,5% vào mức tăng GRDP; Hoạt động xây dựng đóng góp 2,2% vào mức tăng GRDP, trong khi Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng đóng góp không đáng kể.

So với các quý gần đây, tốc độ tăng GRDP quý I/2026 đạt mức cao hơn so với quý III/2025 (8,11%), nhưng vẫn thấp hơn mức tăng của quý IV/2025 (9,03%). Diễn biến này phù hợp với quy luật sản xuất – kinh doanh theo chu kỳ, khi quý IV thường ghi nhận mức tăng trưởng cao hơn do nhu cầu tiêu dùng và hoạt động sản xuất, kinh doanh gia tăng vào dịp cuối năm.

So sánh với các địa phương và cả nước, TP.HCM tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế khi tốc độ tăng trưởng GRDP quý I/2026 ước đạt 8,27%, cao hơn Hà Nội (7,87%) và mức tăng trưởng GDP bình quân cả nước (7,83%).

Hình 2: Tốc độ tăng trưởng GRDP quý I/2026 tại TP.HCM, Hà Nội và cả nước
(Nguồn: Tổng hợp từ: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I/2026 (Cục Thống kê, 2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I/2026 (Thống kê TP.HCM, 2026) và Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I/2026 (Thống kê Thành phố Hà Nội, 2026))

 

Sản xuất và xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý I/2026 ước tăng 11% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng của Hà Nội (8,5%) và bình quân cả nước (9,0%). Xét theo từng ngành: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,4%; cấp nước và xử lý rác thải tăng 6,2%; công nghiệp khai khoáng tăng 5,3% và sản xuất và phân phối điện giảm 4,6%.

Chỉ số sản xuất 4 ngành công nghiệp trọng điểm quý I/2026 tăng 13,6% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành hóa dược tăng 24,5%; ngành lương thực thực phẩm tăng 12%; ngành cơ khí tăng 11,3%; ngành sản xuất sản phẩm điện tử tăng 1,3%.

Chỉ số sản xuất 3 ngành công nghiệp truyền thống quý I/2026 tăng 4,7% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành dệt tăng 10,7%; ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,7%; ngành sản xuất trang phục tăng 2,9%.

Hình 3: Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2026 tại TP.HCM
(Nguồn: Infographic tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I/2026 (Thống kê TP.HCM, 2026))

Kết quả khảo sát doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn TP.HCM trong quý I/2026 cho thấy, 27,9% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh thuận lợi hơn so với quý trước, 40,5% nhận định tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 31,6% đánh giá gặp khó khăn hơn. So với quý IV/2025 (tương ứng 32,9%; 44,9% và 22,2%), các chỉ số này cho thấy xu hướng kém tích cực hơn, phản ánh tâm lý thận trọng của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động. Dù vậy, tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh thuận lợi hơn so với quý trước tại TP.HCM cao hơn mức bình quân của cả nước (23,8%) và Hà Nội (15,0%), cho thấy niềm tin kinh doanh tại TP.HCM vẫn duy trì được trạng thái khả quan nhất định so với cả nước.

 

Hoạt động thương mại và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026 ước đạt 474.556 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 223.676 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 59.241 tỷ đồng, tăng 20,2% so với cùng kỳ; dịch vụ lữ hành ước đạt 8.404 tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ; và doanh thu các dịch vụ khác ước đạt 183.235 tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ.

Hình 4: Chỉ số Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026 tại TP.HCM
(Nguồn: Infographic tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I/2026 (Thống kê TP.HCM, 2026))

Xét trong tương quan với Hà Nội và cả nước, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của TP.HCM quý I/2026 (khoảng 474,5 nghìn tỷ đồng) gần gấp đôi Hà Nội (252 nghìn tỷ đồng) và chiếm tỷ trọng khoảng 24,9% của cả nước (cả nước quý I/2026 ước đạt 1.902,8 nghìn tỷ đồng). Bên cạnh đó, tốc độ tăng 13,3% của TP.HCM cũng cao hơn Hà Nội (11,2%) và cao hơn mức bình quân chung của cả nước (10,9%).

 

Vận tải hành khách và hàng hóa

Tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý I/2026 ước đạt 131.950 tỷ đồng, tăng 16,2% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước đạt 89.966 tỷ đồng, tăng 18,4%, trong đó hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải chiếm tỷ trọng lớn (84.212 tỷ đồng), còn lại là bưu chính chuyển phát đạt 5.754 tỷ đồng; Doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 30.878 tỷ đồng, tăng 8,0%, vận tải đường bộ chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm 72,6%), đường biển (chiếm 22,1%) và đường thủy nội địa (chiếm 5,2%); doanh thu vận tải hành khách ước đạt 11.106 tỷ đồng, tăng 22,9%, chủ yếu đến từ vận tải đường bộ (chiếm 77,7%), tiếp đến là đường biển (chiếm 14,3%) và đường thủy nội địa (chiếm 1,5%).

Hình 5: Doanh thu vận tải quý I/2026 tại TP.HCM
(Nguồn: Infographic tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I/2026 (Thống kê TP.HCM, 2026))

 

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2026 tăng trưởng 2,60% so với cùng kỳ năm trước. So với năm 2025, mức tăng này đã cải thiện hơn so với quý IV/2025 (2,14%), nhưng vẫn thấp hơn so với quý III/2025 (3,14%). Trong tương quan chung, tốc độ tăng trưởng của TP.HCM thấp hơn Hà Nội (3,73%) và bình quân cả nước (3,58%).

Về nông nghiệp, tính đến ngày 20/3/2026, diện tích gieo trồng lúa vụ Đông Xuân đạt 13.033 ha, giảm 0,3% so với cùng kỳ. So với tổng diện tích gieo trồng lúa Đông Xuân của cả nước (2.915,2 nghìn ha), TP.HCM chỉ chiếm khoảng 0,45%. Trong chăn nuôi, đàn gia súc lớn giảm (đàn trâu giảm 7,3% so với cùng kỳ, đàn bò giảm 3,6%), trong khi đàn lợn tăng 3,1% và đàn gia cầm tăng 5,1%.

Về Lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng mới tập trung quý I/2026 đạt 284 ha (tăng 4,8% so với cùng kỳ), và sản lượng gỗ khai thác ước đạt 14.594 m3 (tăng 1,8%). Kết quả này cao hơn đáng kể so với Hà Nội, trồng mới được 57 ha và gỗ khai thác được 4.500 m3. So với tổng thể cả nước trong quý I/2026 (trồng mới 45.600 ha rừng và gỗ khai thác 4.337.800 m3), TP.HCM đóng góp khoảng 0,62% về diện tích rừng trồng mới và 0,34% về sản lượng gỗ khai thác của toàn quốc.

Về thủy sản, là lĩnh vực thế mạnh của TP.HCM. Tổng sản lượng thủy sản quý I/2026 ước đạt 110.098 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng khai thác đạt 90.723 tấn (tăng 2,9%) và nuôi trồng đạt 19.375 tấn (tăng 3,2%). Nhờ lợi thế về biển, sản lượng thủy sản của TP.HCM vượt xa Hà Nội (29.300 tấn, chủ yếu là nuôi trồng). So với tổng sản lượng thủy sản cả nước (2.184.000 tấn), TP.HCM đóng góp khoảng 5,04%.

 

Hoạt động doanh nghiệp

Từ ngày 01/01/2026 đến ngày 20/3/2026, Thành phố đã cấp phép thành lập mới 13.641 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký đạt 91.339 tỷ đồng, tương ứng vốn đăng ký bình quân khoảng 6,7 tỷ đồng/doanh nghiệp, tăng lần lượt 46,7% về số lượng và 46,6% về vốn so với cùng kỳ. So với quy mô chung cả nước (57.422 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn gần 538.594 tỷ đồng, tương ứng vốn đăng ký bình quân khoảng 9,38 tỷ đồng/doanh nghiệp). Cho thấy, TP.HCM chiếm khoảng 23,8% về số doanh nghiệp thành lập mới, nhưng chỉ chiếm khoảng 17,0% về tổng vốn đăng ký, đồng thời quy mô vốn đăng ký bình quân trên mỗi doanh nghiệp cũng thấp hơn mức chung của cả nước.

Về thu hút đầu tư nước ngoài, tổng vốn FDI trong quý I/2026 đạt gần 2,9 tỷ USD, tăng 219,7% so với cùng kỳ và cao hơn đáng kể so với Hà Nội (478,9 triệu USD). Trong đó, có 372 dự án cấp mới với tổng vốn đăng ký 330,7 triệu USD; 75 lượt dự án điều chỉnh vốn với mức tăng thêm 488,8 triệu USD; và 395 trường hợp góp vốn, mua cổ phần với tổng giá trị 2.071,8 triệu USD.

 

Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quý I/2026 tăng 3,36% so với cùng kỳ, trong đó tháng 1/2026 tăng 2,44%, tháng 2 tăng 3% và tháng 3 tăng mạnh 4,64%. Mức tăng đột biến trong tháng 3 chủ yếu do nhóm giao thông tăng 14,83%, phản ánh tác động của giá xăng dầu thế giới tăng cao. Tuy vậy, CPI của Thành phố vẫn thấp hơn mức bình quân cả nước (3,51%) và thấp hơn đáng kể so với Hà Nội (4,29%).

Xét theo nhóm hàng, có 9/11 nhóm ghi nhận chỉ số giá tăng, trong đó cao nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,23%, tiếp đến là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,4%. Ở chiều ngược lại, nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,31%, và nhóm thông tin, truyền thông giảm 0,26%.

Hình 6: Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2026 tại TP.HCM
(Nguồn: Infographic tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I/2026 (Thống kê TP.HCM, 2026))

Chỉ số giá sản xuất quý I/2026 tiếp tục xu hướng tăng ở cả ba khu vực, tuy nhiên mức độ biến động có sự khác biệt rõ rệt. Trong đó, khu vực dịch vụ ghi nhận mức tăng mạnh nhất, ước tăng 9,02% so với quý trước và tăng 13,55% so với cùng kỳ (trong đó, lĩnh vực vận tải kho bãi tăng nổi bật với mức tăng lần lượt 21,91% và 33,31%). Tiếp đến, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng khá cao, ước tăng 3,75% so với quý trước và tăng 5,60% so với cùng kỳ, cao hơn đáng kể so với mức tăng 1,43% của quý IV/2025. Trong khi đó, giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chỉ tăng nhẹ, ước tăng 1,12% so với quý trước và tăng 1,18% so với cùng kỳ, đồng thời thấp hơn mức tăng 1,76% của quý IV/2025.

 

Hoạt động huy động vốn và tín dụng và thị trường chứng khoán

Tổng vốn huy động: tính đến ngày 31/3/2026 đạt 5.267,6 nghìn tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn huy động bằng VNĐ ước đạt 4.735,6 nghìn tỷ đồng, vốn huy động bằng ngoại tệ ước đạt 532 nghìn tỷ.

Tổng dư nợ tín dụng: đến ngày 31/3/2026 ước đạt 5.286,4 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 16,3% so với cùng kỳ. Trong đó, dư nợ tín dụng bằng VNĐ ước đạt 5.079 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng chủ yếu; dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ ước đạt 207,4 nghìn tỷ đồng.

Thị trường chứng khoán: Tính đến ngày 19/3/2026, trên sàn HOSE có 684 mã chứng khoán giao dịch theo hình thức khớp lệnh, trong đó có 357 mã cổ phiếu, 17 mã chứng chỉ quỹ, 308 mã chứng quyền và 02 mã trái phiếu. VN-Index đạt 1.699,1 điểm, tăng 34,1% (tương ứng tăng 432,35 điểm) so với ngày 31/12/2025 và vốn hóa thị trường đạt 7.989.492 tỷ đồng.

Trong quý I/2026, TP.HCM tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế với tốc độ tăng trưởng GRDP ước đạt 8,27%, cao hơn Hà Nội và mức bình quân cả nước. Kết quả này cho thấy sự khởi đầu tích cực, tạo nền tảng quan trọng để Thành phố hiện thực hóa các mục tiêu tăng trưởng trong những quý tiếp theo của năm 2026.

Trần Thị Hiệp

----------------------------------------

Tài liệu tham khảo chính:

[1] Thống kê TP.HCM. (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2026.
[2] Thống kê TP.HCM. (2025). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.
[3] Thống kê TP.HCM. (2025). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và tháng 9 năm 2025.
[4] Thống kê Thành phố Hà Nội. (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2026.
[5] Cục Thống kê. (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2026.

Back to top

Chưa có tài khoản Đăng ký ngay!

Đăng nhập